Menu gauche
Contenu
Các hưởng chiển lược
© Photo N. Devernois
Việt Nam, con rồng kinh tế mới
Việt Nam đang chuyển mình nhanh chóng. Từ 20 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng luôn ở mức trên dưới 7%. Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi về xã hội, kinh tế và thể chế. Từ năm 2000 đến năm 2007, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam đã tăng gấp đôi và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 3. Việt Nam nằm trong số các nước xuất khẩu gạo, cà phê, cao su và một số sản phẩm công nghiệp như may mặc lớn nhất thế giới. Rất nhiều cuộc cải cách đang được triển khai trong lĩnh vực tài chính và khu vực nhà nước. Việt Nam tiếp tục hiện đại hóa nền kinh tế nhằm trở thành một tác nhân lớn trong khu vực, cùng với sự hiện diện ngày càng tích cực trong các tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc, ASEAN và APEC. Tháng 1 năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ngoài ổn định chính trị và công bằng xã hội, Việt Nam còn hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành một nước rất hấp dẫn trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài.
Tình hình trên đã cho phép Việt Nam giảm đáng kể tình trạng đói nghèo, nhưng đất nước vẫn phải đương đầu với những thay đổi mới. Một phần tư dân số sống dưới mức nghèo khổ. Ba phần tư dân số còn sống tại vùng nông thôn. Mỗi năm có khoảng một triệu thanh niên bước vào thị trường lao động. Đến năm 2025, Việt Nam sẽ có khoảng 125 triệu dân, trở thành nước đông dân thứ 4 ở châu Á. Do vậy, Việt Nam phải vượt qua những thách thức lớn bao gồm tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề cho thanh niên, dân số đô thị tăng mạnh, tăng sản xuất năng lượng với chi phí các bon thấp nhất, và cuối cùng là phải quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, đất đai, năng lượng tái tạo).
Một sự khẩn cấp mới xuất hiện : sự chuẩn bị cho những tác động của biến đổi khí hậu. Với 3 444 km bờ biển và hai vùng đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng với sự cân bằng còn mong manh, Việt Nam nằm trong số những nước dễ bị tổn thương nhất do các tác động của khí hậu nóng dần. Nếu không được trang bị đủ để đối mặt với biến đổi khí hậu, toàn bộ những nỗ lực giảm nghèo và phát triển của quốc gia sẽ bị ảnh hưởng.
Trước những thách thức to lớn này, AFD tại Việt Nam đã quyết định tập trung chiến lược của mình vào 4 lĩnh vực :
-
Doanh nghiệp nhỏ tư nhân, lĩnh vực tài chính và đào tạo nghề
Các khoản tài trợ của AFD dành cho các ngân hàng và các định chế tài chính theo hình thức hỗ trợ ngân sách ngành (cải cách lĩnh vực tài chính, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa). Mục tiêu của các khoản tài trợ này là tăng tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời hỗ trợ các ngân hàng và các định chế tài chính – kể cả tài chính vi mô – trong hiện đại hóa công tác quản lý và thích ứng với tiêu chuẩn quốc tế (tuân thủ quy tắc bảo toàn vốn, bảo vệ môi trường và xã hội, chống rửa tiền và chống tài trợ cho khủng bố).
AFD cũng đã phát triển các hoạt động tài trợ trong lĩnh vực đào tạo nghề. Mục đích là giúp đỡ Việt Nam có một đội ngũ lao động có trình độ, năng lực, là điều kiện không thể thiếu để có thể cạnh tranh thành công trên phạm vi quốc tế, thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề, thiết lập quan hệ đối tác với các doanh nghiệp và hỗ trợ quá trình chuyển đổi của người lao động từ ngành công nghiệp nặng (mỏ, vv) sang các ngành công nghiệp hiện đại hơn (viễn thông, điện tử, nguyên tử, vv)..
-
Cơ sở hạ tầng
Hạ tầng cơ sở mà chúng tôi tài trợ gồm :
- lĩnh vực môi trường (nước sạch và vệ sinh, chất thải đô thị)
- năng lượng
- giao thông.
Mục tiêu của các dự án do AFD tài trợ là tạo điều kiện để những người nghèo có thể tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (điện nông thôn và nước sạch) và đầu tư hạ tầng cơ sở lớn mang tính cơ cấu (truyền tải năng lượng, tuyến đường tàu điện ngầm đô thị đầu tiên tại Hà Nội, nâng cấp đường sắt). Các khoản tài trợ này cũng dành cho các quỹ đầu tư của các thành phố để xây dựng thiết bị công cộng loại nhỏ.
-
Nông nghiệp và an toàn lương thực
Nhiều khoản tài trợ được triển khai nhằm mục đích nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số ngành sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cà phê, chè, đường, bông và cao su). AFD hỗ trợ triển khai các chính sách công mới, cần thiết cho quá trình tự do hóa sản xuất và thương mại.
Các chương trình cũng đầu tư cho hạ tầng cơ sở phục vụ cho các cộng đồng dân nghèo nông thôn (đường sá và chợ nông thôn, tiếp cận với nước sạch, chống lũ lụt, các đập nước và hệ thống tưới).
-
Quan hệ đối tác và Nghiên cứu
Bộ phận « Quan hệ đối tác và Nghiên cứu » của AFD có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thẩm cứu và quản lý các dự án hoạt động khoa học của Cơ quan (nghiên cứu theo chuyên đề ou lĩnh vực, tổ chức hội thảo, tọa đàm)
Tham gia tích cực vào các nhòm điều phối các nhà tài trợ có lợi ích chiến lược hoặc tác nghiệp đối với Cơ quan, như nhóm 6 ngân hàng phát triển (AFD, BAD, Ngân hàng Thế giới, JICA, KfW, Korea Eximbank)
Giám sát các dự án ONG do AFD tài trợ và các dự án hợp tác phi tập trung
Dịch tài liệu của AFD sang tiếng Việt
Bộ phận này cũng chịu trách nhiệm thẩm cứu và thực hiện các dự án, chương trình liên quan đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trên cơ sở đồng tài trợ với các nhà tài trợ khác (hỗ trợ ngân sách, chương trình hỗ trợ phát triển quan hệ đối tác công-tư).

![français [French]](/jsp/jahia/engines/images/flags/fr_off.gif)
![English [English]](/jsp/jahia/engines/images/flags/en_off.gif)